Đồn cổ Xuân Đám nằm trên địa bàn xã Xuân Đám (cũ), quần đảo Cát Bà, thành phố Hải Phòng; được xếp hạng Di tích khảo cổ học cấp Thành phố theo Quyết định số 66/QĐ-UBND ngày 12/01/2012 của UBND thành phố Hải Phòng. Di tích không chỉ ghi dấu một công trình quân sự trên đảo, mà còn đặc biệt quan trọng bởi trong phạm vi đồn còn bảo lưu Di chỉ khảo cổ học bãi Cát Đồn (còn gọi là Thành Đồn) – một trong những địa điểm khảo cổ tiêu biểu ở Cát Bà.
Theo tư liệu giới thiệu tại hệ thống thông tin du lịch địa phương, di chỉ bãi Cát Đồn thuộc giai đoạn muộn của văn hóa Hạ Long, có niên đại khoảng 3.500 năm trước. Cuộc khai quật năm 2003 đã thu được số lượng hiện vật lớn, gồm 525 hiện vật bằng đá và 15.964 hiện vật bằng gốm, góp phần làm rõ dấu tích cư trú của cư dân cổ trên đảo Cát Bà.

Một góc Đồn cổ Xuân Đám
Trong số hiện vật đá, có thể kể tới bàn mài, công cụ dạng cưa, hòn kê, đập, rìu, chày, bôn, hạch đá… phản ánh tổ hợp công cụ lao động tương đối phong phú. Nổi bật là nhóm gốm xốp – loại gốm được chế tạo từ đất sét pha trộn vỏ nhuyễn thể giã vụn, tạo độ xốp đặc trưng; bên cạnh đó là gốm đặc pha cát với số lượng ít hơn. Về hình thái, đồ gốm được ghi nhận có hai kiểu cơ bản là miệng loe và miệng khum; hệ thống chân đế gồm các dạng trôn bát, chân đế mâm bồng và chân đế loe choãi. Tập hợp di vật này cho thấy trình độ chế tác và thói quen sinh hoạt của cộng đồng cư dân cổ, đồng thời cung cấp căn cứ khoa học quan trọng để nhận diện bối cảnh văn hóa – kỹ thuật của cư dân biển đảo thời tiền sử.
Các dấu tích ở Cát Đồn, cùng với Di chỉ Cái Bèo, giúp khẳng định sự hiện diện và cư trú lâu dài của người Việt cổ trên Cát Bà. Văn hóa Hạ Long được nhiều công trình nghiên cứu xác định có khung niên đại vào khoảng 4.000 – 3.500 năm trước; trong đó giai đoạn muộn tương ứng với lớp di tồn ở Cát Đồn nêu trên. Những dữ liệu khảo cổ này bổ sung chiều sâu lịch sử cho không gian Cát Bà, vốn lâu nay thường được biết đến nhiều hơn qua giá trị cảnh quan, sinh thái.
Gắn với lớp di chỉ tiền sử là lớp di tồn quân sự – lịch sử ở Đồn cổ Xuân Đám. Tư liệu địa phương cho biết đồn được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 20 (1840), là công trình quân sự nhằm bảo vệ vùng biển Cát Bà; dưới chân và trong lòng đồn là di chỉ bãi Cát Đồn. Vị trí của đồn ở khu vực phía Đông Bắc xã Xuân Đám, sát bãi Cát Đồn, được mô tả gồm hai khu: đồn Thượng và đồn Hạ.

Một góc Đồn cổ Xuân Đám
Theo mô tả trong thư tịch và tư liệu giới thiệu, Ninh Hải Bảo (tên gọi gắn với khu vực đồn) có đồ án hình vuông, chiều dài khoảng 80m, rộng 75m; vách trong và vách ngoài xây đá kè thẳng đứng. Vách ngoài được nêu cao khoảng 1,7m; phần chân tường là nền đất cao khoảng 1m so với đường đi hiện tại. Vách trong cao khoảng 1,1m; tường dày khoảng 3,35m. Bốn góc đồn có các pháo đài nhô ra ngoài, phần mặt pháo được mô tả dài khoảng 14m.
Đồn Hạ có cấu trúc gần vuông, các mặt thành dựng theo hướng Đông Bắc – Tây Nam; mặt thành hướng Đông Bắc tiếp giáp biển, trong khi ba mặt còn lại được che chắn bởi địa hình núi cao thấp khác nhau. Bốn góc thành được xây lượn kiểu “quai chảo”. Tường thành được kè bằng các phiến đá vôi – vật liệu sẵn có trên đảo Cát Bà. Đáng chú ý, kỹ thuật xếp đá được giới thiệu là không sử dụng chất kết dính, nhưng nhờ ghép, ken khéo léo vẫn tạo nên kết cấu chắc chắn. Thành có hai cửa ở hướng Đông Bắc và Tây Nam, nối với nhau bằng một đường nội bộ nhỏ đắp đất, mặt trải đá. Đồn Thượng có cấu trúc tương tự đồn Hạ nhưng quy mô nhỏ hơn; đồn Thượng ở sườn đồi, đồn Hạ ở thung lũng hẹp; đồn Thượng cách đồn Hạ khoảng 120m.
Trải qua thời gian, hiện trạng di tích còn lại chủ yếu là một số dấu tích tường thành, song phần di chỉ khảo cổ và các lớp trầm tích văn hóa trong lòng khu vực vẫn được ghi nhận có khả năng bảo tồn dưới lòng đất. Với tư cách di tích khảo cổ học đã được xếp hạng, Đồn cổ Xuân Đám – Di chỉ Cát Đồn là tư liệu có giá trị lịch sử và khoa học, gắn với quá trình hình thành vùng đất, con người Cát Bà nói chung và xã Xuân Đám nói riêng, đồng thời gợi mở về truyền thống tổ chức phòng thủ, bảo vệ không gian biển đảo qua các thời kỳ.
Trong định hướng phát triển bền vững, di tích cần được quản lý, khoanh vùng bảo vệ, hạn chế tác động làm biến dạng tầng văn hóa; đồng thời tăng cường truyền thông cộng đồng, xây dựng nội dung giới thiệu phù hợp để phát huy giá trị di sản gắn với giáo dục lịch sử và du lịch có trách nhiệm. Di tích Đồn cổ Xuân Đám vì thế không chỉ là “dấu tích” của quá khứ, mà còn là nguồn tư liệu sống động để tiếp tục nghiên cứu và lan tỏa nhận thức về lịch sử biển đảo, từ lớp cư trú tiền sử ở Cát Đồn đến dấu ấn phòng thủ ở Đồn cổ trên đảo Cát Bà.
T/h: Xuân Thuỷ