Nằm trong quần thể di tích của xã Nghĩa Lộ (nay thuộc đặc khu Cát Hải), thành phố Hải Phòng, Đình – Miếu Nghĩa Lộ là một thiết chế tín ngưỡng – văn hóa tiêu biểu của cư dân vùng biển đảo. Không chỉ là nơi thờ tự linh thiêng, di tích còn là không gian cố kết cộng đồng, lưu giữ ký ức về truyền thống dựng làng, giữ nước và những dấu ấn lịch sử cách mạng ở cơ sở.
Theo tư liệu địa phương, cụm di tích gắn với tục thờ cúng và hệ thống nhân vật trong truyền thống bản địa, nổi bật là Đức thánh Hùng Sơn liên quan thời Hùng Vương thứ 6. Đình làng Nghĩa Lộ là nơi phối thờ các vị Thần hoàng có công với đất nước; trước hết thờ Đức thánh Hùng Sơn, sau phối thờ Đông Hải Đại Vương - Đoàn Thượng. Truyền thuyết địa phương mô tả Đức thánh Hùng Sơn có công chiêu tập binh mã, thành lập thủy binh, lập nhiều chiến công chống giặc Ân; trong một trận quyết chiến trên biển, ông bị lọt vào vòng vây và hy sinh. Tương truyền miếu Cốt Múa là nơi dân làng tìm thấy thi hài và chôn cất ông; về sau, triều đình cho lập miếu phụng thờ. Đây cũng là nơi nhân dân hội họp, sinh hoạt văn hóa, thực hành nghi lễ truyền thống hằng năm.

Cổng Miếu Tổ Sơn – Thánh Mẫu
Về tổng thể, quần thể Đình – Miếu Nghĩa Lộ gồm ba hạng mục chính: đình làng Nghĩa Lộ, chùa Nghĩa Lộ (Đông Sơn tự) và miếu Mẫu Tổ Sơn. Mỗi công trình đảm nhiệm một lớp nghĩa văn hóa riêng, tạo nên không gian thờ tự tổng hợp, phản ánh sự đan xen giữa tín ngưỡng dân gian và Phật giáo trong đời sống cư dân làng xã vùng biển.
Đình làng Nghĩa Lộ từng là trung tâm sinh hoạt cộng đồng. Tư liệu địa phương cho biết đình bị hủy hoại nặng năm 1953 do thực dân Pháp đồn trú. Hiện vật liên quan đến ngôi đình khởi dựng thời Lê Trung Hưng (cuối thế kỷ XVII) còn lại không nhiều, chủ yếu là một số tiêu bản nghệ thuật chạm khắc gỗ hình rồng trên cấu kiện kiến trúc (đầu dư, kẻ lách), hiện được sưu tầm và trưng bày tại Bảo tàng Hải Phòng. Một tấm bia “Hậu đình phối hưởng…” niên hiệu Bảo Đại năm thứ 8 (1933) cũng được coi là chứng cứ về sự tồn tại của ngôi đình. Tư liệu mô tả kiến trúc đình theo kiểu nhà ba gian bốn vì, mái lợp ngói, tường hồi bít đốc; mặt chính quay hướng Tây; trang trí rồng chầu mặt nguyệt. Ở một nguồn tư liệu giới thiệu khác về “Đình Nghĩa Lộ (Làng Sò)”, đình được ghi nhận “niên đại thế kỷ XX” và nêu hệ thống thành hoàng là Hùng Sơn, Nam Hải Đại Vương và Đông Hải Đại Vương; đồng thời cho biết đình được xây lại năm 1997 và hiện thờ ba vị thành hoàng nêu trên. Những chi tiết này cho thấy di tích có quá trình biến đổi, trùng tu theo từng giai đoạn lịch sử, nhưng vẫn duy trì vai trò trung tâm tín ngưỡng – văn hóa của cộng đồng.

Miếu Tổ Sơn – Thánh Mẫu
Bên cạnh đình, chùa Nghĩa Lộ (Đông Sơn tự) là nơi nhân dân tôn thờ Phật theo tín ngưỡng làng xã Việt Nam. Tư liệu địa phương cho biết chùa lưu giữ một số hiện vật có giá trị nghệ thuật thời Nguyễn (đầu thế kỷ XIX), gồm hai pho tượng Quan Âm bằng đá, tượng Tam Thế, tượng Ngọc Hoàng và một quả chuông chùa Đông Sơn. Đây là những thành tố góp phần tạo nên chiều sâu văn hóa và giá trị thẩm mỹ cho quần thể di tích.
Miếu Mẫu Tổ Sơn có kiến trúc giản dị kiểu cây hương, nằm dưới bóng cây cổ thụ mà người dân gọi là cây Cốt Múa. Miếu thờ Thánh Mẫu Tổ Sơn, được coi là thân sinh Đức thánh Hùng Sơn. Việc thờ Mẫu trong không gian di tích phản ánh rõ đặc điểm tín ngưỡng dân gian của cư dân vùng biển, nơi hình tượng người mẹ, sự chở che và sinh thành được đề cao, hòa quyện cùng tín ngưỡng thờ thành hoàng và thờ Phật.
Giá trị của Đình – Miếu Nghĩa Lộ còn thể hiện ở chiều sâu lịch sử cận – hiện đại. Tư liệu địa phương ghi nhận trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đình – miếu xã Nghĩa Lộ chứng kiến nhiều sự kiện, góp phần làm phong phú truyền thống của huyện đảo. Trong những ngày Cách mạng Tháng Tám, đình Nghĩa Lộ là nơi đặt trụ sở của chính quyền cách mạng lâm thời xã Phú Yên (gồm Nghĩa Lộ và Đồng Bài), nơi hội họp tuyên truyền chủ trương kháng chiến; đồng thời là địa điểm đặt hộp thư mật, đầu mối liên lạc giữa lãnh đạo Việt Minh và cơ sở cách mạng các xã; cũng là nơi tập kết đưa con em địa phương ra khu căn cứ để tòng quân. Trong giai đoạn chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, đình Nghĩa Lộ được sử dụng làm kho hàng của huyện.

Lễ hội truyền thống di tích lịch sử văn hóa Đình, Miếu Nghĩa Lộ
Gắn chặt với đời sống cộng đồng, lễ hội Đình – Miếu Nghĩa Lộ được tổ chức hằng năm trong 3 ngày, từ 11/6 đến 13/6 âm lịch. Lễ hội gồm hai phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ diễn ra trang nghiêm với các nghi thức cúng tế, trong đó hoạt động rước kiệu được xem là điểm nhấn mang đậm tính tâm linh của cư dân miền biển. Đây là dịp để nhân dân trong làng và những người con quê hương Nghĩa Lộ ở khắp mọi miền đất nước thành kính dâng hương, hướng về cội nguồn, tưởng nhớ công lao khai hoang, tạo lập làng xã của các vị thành hoàng; đồng thời vun đắp đạo lý “uống nước nhớ nguồn” trong đời sống văn hóa địa phương. Phần hội được tổ chức nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, tạo nguồn lực tinh thần, khơi dậy niềm tự hào và nâng cao ý thức trách nhiệm của các thế hệ trong việc gìn giữ, phát huy di sản cha ông để lại.

Rước kiệu tại Lễ hội truyền thống di tích lịch sử văn hóa Đình, Miếu Nghĩa Lộ
Cùng với các nghi thức tế lễ, rước kiệu, hoạt động văn hóa – văn nghệ góp phần làm nên không khí sôi nổi cho lễ hội. Nhiều chương trình giao lưu, biểu diễn quần chúng được tổ chức theo hình thức sân khấu hóa, với các tiết mục ca, múa, hát được dàn dựng công phu, mang nội dung ca ngợi quê hương, đất nước, phản ánh sự đổi thay của địa phương và giới thiệu nét đẹp văn hóa bản địa. Không gian nghệ thuật cộng đồng vì thế trở thành điểm hẹn giao lưu, tạo sức hút đối với người dân và du khách, đồng thời tăng cường sự gắn kết xã hội trong cộng đồng làng biển.
Với những giá trị lịch sử và văn hóa tiêu biểu, ngày 28/1/2005, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng ban hành Quyết định số 177/QĐ-UBND công nhận Đình – Miếu Nghĩa Lộ (xã Nghĩa Lộ, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng) là di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố. Từ năm 1997 đến nay, quần thể di tích tiếp tục được quan tâm khôi phục, tôn tạo và bảo vệ, góp phần giáo dục truyền thống, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng của nhân dân và từng bước phục vụ tham quan, tìm hiểu.
Trong bối cảnh phát triển du lịch biển đảo, Đình – Miếu Nghĩa Lộ có ý nghĩa như một điểm đến văn hóa – lịch sử, nơi du khách có thể tiếp cận không gian tín ngưỡng làng xã, tìm hiểu truyền thống cư dân vùng đảo và những dấu ấn cách mạng ở cơ sở. Việc phát huy giá trị di tích cần gắn với bảo tồn tính xác thực của tư liệu, chuẩn hóa nội dung thuyết minh và giữ gìn sự tôn nghiêm của không gian thờ tự, qua đó góp phần lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống và bồi đắp niềm tự hào về quê hương, đất nước trong đời sống đương đại./.
T/h: Xuân Thuỷ